(Tiếp…)

Hỏi : Âm Dương là gì ? là sao ? là thế nào ?

Ðáp : Quan niệm rằng, nhiệm vụ của trường học, nhất là ở bậc đại học, là giảng dạy, hướng dẫn, soi sáng, trao đổi với nhau về những sở học sâu rộng, học triết lý để cách vật trí tri, học về chân lý để chân tri, học cho biết rő thiên mệnh, nhân mệnh, vật mệnh và sự việc, phận sự … để thuận thiên hành đạo, để dụng nhân như dụng mộc hết sức vi diệu dụng (tức trau giồi đức tài và tài đức sẵn có ở mỗi trí tri ý sẵn có ở mỗi người), để đủ và thừa sức vén khăn che mặt tạo hóa, để đủ và thừa sức vẽ được đường đi dĩ nhiên của tạo hóa. Ðó là mục tiêu tối hậu của trường học, nhất là bậc đại học. Bằng không có mục tiêu rõ rệt như vậy, lẽ đương nhiên, trường đại học thật sự chỉ là nơi học đại, học ẩu mà thôi.

Trường học muốn chu toàn trách nhiệm trên, ắt phải chuyên lo giảng dạy khoa học tổng tập của nhân thế, là khoa học dùng để đệm vào mọi ngành khoa học chuyên môn mà nhân loại đã có hoặc sắp có.

Vì lẽ khoa học tổng tập của nhân thế chính là học về Âm Dương Tiên Hậu Thiên Trí Tri Ý Thức. Mà mọi khoa học chỉ là con đẻ của trí tri ý thức mà thôi.

Vậy rõ ràng, trách vụ của trường đại học là : lo cho sinh viên trau giồi Âm Dương Lý Trí Tánh (là đức tánh Biết biến hóa hóa thành ở muôn loài vô hữu trong muôn đời, muôn nơi và mãi mãi).

Vậy, Âm Dương là gì ? là sao ? là thế nào ?

Âm Dương chỉ là hai danh từ do con người bày đặt ra.

A/-Nói theo đa số thông thường thì : Hai danh từ ấy để ám chỉ về cái lý lẽ quá khác và hơi khác ở muôn vô hữu vật.

a/Quá khác đối đăi như : sáng tối, nóng lạnh, sống chết, thiện ác, thân thù, ưa ghét, hiền dữ …

ă/Hơi khác như : úa héo, tối-tối hơn, sáng-sáng hơn, ôn lương, bệnh nặng – hấp hối, hấp hối – chết …

â/So sánh đúng sai : quan niệm Âm Dương là quá quá khác hoặc hơi khác như trên, thì chỗ nào đúng ? chỗ nào sai ?

Sự thật, cả hai đều có đúng và có sai. Bởi vì đối với :

  • Quan niệm Âm Dương quá khác thì chỉ đúng cho phạm vi mắt dễ nhìn, tai dễ nghe, trí dễ hiểu. Tức là chỉ đúng cho phạm vi thô kệch, phạm vi kém linh động và sai ở phạm vi nhiệm nhặt, linh động.
  • Quan niệm Âm Dương hơi khác thì chỉ đúng cho phạm vi mắt khó thấy, tai khó nghe, trí khó hiểu. Tức là chỉ đúng cho phạm vi nhiệm nhặt, linh động mà lại sai ở phạm vi thô kệch, kém linh động.

B/-Theo văn minh Dịch Lý Việt Nam (Triết lý Dịch) thì:

Hai danh từ ấy do con người bày đặt ra để ám chỉ, để diễn tả, để neo ý, để truyền thông nghĩa lý về vấn đề Giống mà Hơi Hơi Khác. Tức là để ám chỉ cái hơi hơi khác rất khó thấy biết, rất khó hiểu biết sẵn có, bất kể ở trong 01 đơn vị hóa thành tuyệt đối nào, và đồng thời cùng lúc để chỉ về nhiều cái hơi hơi khác chung hợp, liên hệ chằng chịt lại, kết nối lại (chuỗi lý hóa thành) mới thành ra quá khác.

Ví dụ : Sáng là âm dương, tối là âm dương, hơi sáng là âm dương, hơi tối là âm dương, hấp hối là âm dương, chết là âm dương.

Ở trong đơn vị 01 hóa thành tuyệt đối nào cũng đều phải sẵn có cái nền tảng của nó. Thứ thô kệch cũng vậy, mà thứ linh động cũng thế thôi. Bởi vì đó chỉ là vấn đề ẩn hiện. Tức là đức tánh, là tư năng tự tánh biến hóa hóa thành ra như vậy.

Một khối thể như cục đá đang hiển hiện trước mắt chúng ta đây, nhưng chính cục đá đó phải do nhiều nhiễn thể đă hóa thành đang ẩn tàng trong đó, tại đó, đang làm nền tảng kết hợp, chung chạ, chằng chịt mà hóa thành ra cục đá hiển hiện. Vậy 01 cái đơn vị hóa thành tuyệt đối là cục đá, nó đang ẩn hiện cùng lúc, tức âm dương cùng lúc.

Ở đâu cũng là âm dương, cái gì, cái chi cũng là âm dương, lúc nào cũng là âm dương, mãi mãi chỉ là âm dương (bộ máy tạo hóa). Âm Dương tại 01 linh động nào cũng là âm dương. Quan niệm âm dương như vậy thì đúng ở mọi phạm vi thô kệch và đúng luôn ở mọi phạm vi linh động.

C/-Nên hiểu : Hiểu âm dương là quá khác hoặc là hơi hơi khác cũng tùy theo mỗi người, nhưng chúng ta là người học theo triết lý Dịch Biến, ta nên hiểu hai danh từ đó (Âm Dương) là để chỉ sự Giống màHơi Hơi Khác. Và nên hiểu rằng : nhiều cái Giống mà Hơi Khác gộp lại thành ra gọi là Quá Khác, Quá Quá Khác, chớ chẳng có gì lạ.

Ta cũng nên hiểu thêm : người đời đa số vọng động, thiển cận, nên chỉ thường thấy, hiểu một cách tương đối về âm dương. Tức hiểu âm dương dị biệt, đến thời loạn trí thì thấy quá quá khác nhau, nên coi nhau như tử thù, không đội trời chung. Mà đâu có được, vẫn phải đội chung trời. Than ôi ! nạn tai hậu học âm dương dị biệt.

Tóm lại, người học Âm Dương Lý, học Âm Dương Lý Trí Tánh, học triết lý Dịch biến cần phải hiểu rõ : âm dương tuyệt đối siêu tuyệt sẵn tự có linh động tính. Nó tự linh động măi măi không đình nghỉ với chính nó (biến hóa mãi) thì mới hóa thành ra đơn vị 01 âm dương thô kệch … Và âm dương thô kệch này lại tự linh động mãi với chính nó mới hóa thành ra 01 âm dương linh động mới hơn kém sao đó.

Người đời tỏ ra hiểu cao sâu nên nói trong âm có dương, trong dương có âm. Làm gì có chuyện riêng âm hay riêng dương mà nói trong này có kia. Âm là Dương, Dương là Âm. Âm Dương là 01 mà 02, 01 là 02 cùng lúc chung cùng, không chia cắt được.

Kết luận :

Quan niệm hai chữ Âm Dương như triết lý Dịch nêu trên thì con người chúng ta và cả muôn loài vô hữu vật chẳng làm sao mà thoát khỏi được chúng. Con người cũng có phần thô kệch, kém linh động và cả phần mầu nhiệm vô cùng linh động. Linh động và thô kệch đó, kém linh động đó được và bị đa số người đời gọi là tinh thần và vật chất, trí óc và thể xác, vô thể và hữu thể. Dù cho gọi là gì đi nữa, theo quan niệm của văn minh Dịch Lý Việt Nam thì chúng cũng chỉ là âm dương cùng lúc chung cùng, không phân tách rời ra được, không thể chia cách ra được. Chúng vẫn chỉ là âm dương linh động và kém linh động, không biên cương, không ranh giới (linh động – kém linh động). Vật chất cũng là âm dương, tinh thần cũng là âm dương. Tinh thần vật chất hoặc vật chất tinh thần cũng là âm dương. Không có cái gì, cái chi mà thoát khỏi âm dương. Vậy, âm dương là bộ máy tạo hóa rất xứng danh, chính lý, chí lý, hợp tình lý đó vậy.

Hễ có lý tuyệt đối thì do có cái lý lẽ tương đối ban cho nghĩa lý là tuyệt đối và ngược lại. Hễ có lý là âm dương thì do cái lý dương âm ban cho nghĩa lý, có lý, được lý là âm dương. Như vậy, nếu từ tương đối lý đến tuyệt đối lý có nghĩa là (nếu ta tạm dùng lý trí phân tách gượng ép cho ra lý lẽ Hơi khác, Khác, tương dị trong chính cái tương đồng, cái giống nhau thì) ta gọi danh được lý Âm, giống mà hơi khác hoặc khác Dương, Dương giống mà hơi khác hoặc khác Âm.

Tùy trình độ hiểu biết về sự phân tích gượng ép, ta hiểu : âm mà có dương, dương mà có âm, âm mà dương, dương mà âm, âm là dương, dương là âm. Phân tích gượng ép ra âm dương rồi hiểu về nó tùy theo trình độ hiểu biết của mỗi người chỉ nhằm mục đích neo ý và truyền thông về sự giống mà hơi khác, khác nhau mà thôi.

Nay, chúng tôi đề nghị : để không xa rời chân lý tuyệt đối, tức âm dương là một và để dễ truyền thông tư tưởng giữa người với người về chân lý tuyệt đối ấy khi phát ngôn hoặc vẽ vời nét tự thì quy ước : Âm Dương Âm tức là một hóa thành âm dương nào đó, tại nơi đó, trong lúc đó, nó đang nghiêng về âm, nhưng vẫn là dương. Và tại nơi nào đó, lúc nào đó, một hóa thành sao đó lại nghiêng nặng về dương, vẫn là âm thì được gọi danh quy ước Dương Âm Dương.

Nếu sau này quá quen thuộc về chân lý âm dương, ta mới gọi tắt là Âm, là Dương. Nhưng ta vẫn hiểu được rõ rệt và không bao giờ quên béng cái lý âm dương là một cùng lúc chung cùng. Không thể nào quên cái lý định danh âm dương, để ám chỉ sự giống mà hơ hơi khác đến quá khác trong muôn loài, trong muôn nơi, muôn đời và mãi mãi đó vậy.

Trọng Ðông Canh Tuất 1970

Việt Nam Dịch Lý Hội

Dịch Lý Sĩ Xuân Phong

Cao Thanh Dịch Học Sĩ.